Tư vấn luật dân sự, hình sự, tố tụng giải quyết mâu thuẫn tranh chấp tài sản….

Cá nhân dưới 14 tuổi có bị xử phạt vi phạm hành chính không?

Cá nhân dưới 14 tuổi có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Trong nội dung bài viết dưới đây, Luật Minh Khuê xin chia sẻ những quy định liên quan đến vấn đề này, mời quý bạn đọc cùng tham khảo.

Mục lục

1. Những đối tượng nào bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định?

Dựa theo Điều 5 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, việc xử lý vi phạm hành chính áp dụng cho các đối tượng nhất định. Những đối tượng này bao gồm:

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do cố ý. Người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính đối với mọi vi phạm hành chính.

– Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân nếu vi phạm hành chính sẽ bị xử lý như các công dân khác. Trong trường hợp cần thiết, có thể áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh. Trong trường hợp này, người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý.

– Tổ chức sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính đối với mọi vi phạm hành chính mà tổ chức đó gây ra.

– Cá nhân, tổ chức nước ngoài sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên các phương tiện vận chuyển quốc tế mang quốc tịch Việt Nam, như tàu bay và tàu biển, cũng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ khi có các quy định khác theo các hiệp định quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

– Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là cá nhân được quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật này. Các biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài.

 

2. Cá nhân dưới 14 tuổi có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không?

Dựa theo Điều 11 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, có những trường hợp không áp dụng xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm:

– Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết.

– Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng.

– Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ.

– Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng.

– Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính hoặc chưa đủ tuổi theo quy định tại điểm a, khoản 1 của Điều 5 trong Luật này.

Do đó, theo quy định tại điểm a, khoản 1 của Điều 5 và khoản 5 của Điều 11 trong Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, cá nhân dưới 14 tuổi không nằm trong đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính.

 

3. Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Dựa trên Điều 65 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, đã được sửa đổi bởi khoản 33 Điều 1 của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020, quy định về những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính như sau:

– Không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp sau đây:

  • Trường hợp quy định tại Điều 11 của Luật này.
  • Không xác định được đối tượng vi phạm hành chính.
  • Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6, hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này.
  • Cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích; tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt.
  • Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 62 của Luật này.

– Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 của Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu chúng thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành, hoặc nếu pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính đó.

– Quyết định phải ghi rõ lý do không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thông tin về tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tịch thu, và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng, cũng như trách nhiệm và thời hạn thực hiện.

– Việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản này không được coi là việc đã xử phạt vi phạm hành chính.

Do đó, theo quy định này, cá nhân dưới 14 tuổi không bị xử phạt hành chính, tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền vẫn giữ quyền quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, ví dụ như xe và thuốc lá.

 

4. Trường hợp người dưới 14 tuổi vi phạm hành chính gây ra thiệt hại thì ai chịu trách nhiệm bồi thường?

Theo Điều 13 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, quy định như sau:

– Người vi phạm hành chính, nếu gây ra thiệt hại, phải chịu trách nhiệm bồi thường. Quy trình bồi thường thiệt hại sẽ tuân theo các quy định của pháp luật về dân sự.

– Người có thẩm quyền trong việc xử lý vi phạm hành chính, cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến quá trình xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại, đều phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.

Do đó, theo quy định của Điều 13, người vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại, sẽ phải đền bù theo quy định của pháp luật dân sự. Đồng thời, người có thẩm quyền và các bên liên quan trong quá trình xử lý vi phạm hành chính cũng sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 2 của Điều 586 trong Bộ luật Dân sự 2015, quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:

– Người từ đủ mười tám tuổi trở lên, nếu gây ra thiệt hại, sẽ chịu trách nhiệm tự bồi thường.

– Người chưa đủ mười lăm tuổi, nếu gây ra thiệt hại và có cha, mẹ, thì cha, mẹ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trong trường hợp tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường và người gây thiệt hại chưa thành niên có tài sản riêng, thì tài sản cá nhân của người chưa thành niên sẽ được sử dụng để bồi thường phần thiếu sót, trừ khi có các quy định khác tại Điều 599 trong Bộ luật Dân sự.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, nếu gây ra thiệt hại, phải chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản cá nhân của mình. Trong trường hợp không đủ tài sản để bồi thường, cha, mẹ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường phần còn thiếu sót bằng tài sản của họ.

– Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, hoặc người gặp khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi gây thiệt hại, nếu có người giám hộ, người giám hộ đó sẽ sử dụng tài sản của người được giám hộ để bồi thường. Trong trường hợp người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường, người giám hộ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, thì không cần sử dụng tài sản cá nhân để bồi thường.

Hơn nữa, theo quy định tại Điều 599 của Bộ luật Dân sự 2015, chi tiết như sau:

– Trong thời gian trực tiếp quản lý của trường học, nếu người chưa đủ mười lăm tuổi gây ra thiệt hại, trường học sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho thiệt hại đó.

– Trong thời gian bệnh viện hoặc pháp nhân khác trực tiếp quản lý, nếu người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại cho người khác, bệnh viện hoặc pháp nhân khác sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho thiệt hại đó.

– Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác, được quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này, không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu chứng minh được họ không có lỗi trong quản lý. Trong trường hợp này, cha, mẹ, hoặc người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho thiệt hại.

Dựa trên quy định về trách nhiệm bồi thường đối với trường hợp người dưới 14 tuổi vi phạm hành chính gây ra thiệt hại, các điều kiện được xác định như sau:

– Trường hợp 01: Nếu người dưới 14 tuổi gây thiệt hại và còn cha, mẹ, thì cha, mẹ sẽ chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trong trường hợp tài sản của cha, mẹ không đủ để đền bù và người dưới mười lăm tuổi có tài sản riêng, tài sản của người dưới mười lăm tuổi sẽ được sử dụng để bồi thường phần thiếu sót.

– Trường hợp 02: Đối với người dưới 14 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ, người giám hộ sẽ sử dụng tài sản của người được giám hộ để bồi thường. Nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường, người giám hộ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản của mình. Trong trường hợp người giám hộ chứng minh được rằng họ không có lỗi trong việc giám hộ, họ không bị buộc phải sử dụng tài sản cá nhân để bồi thường.

– Trường hợp 03: Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý và gây ra thiệt hại, trường học sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho thiệt hại đó.

Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất
Tìm kiếm
Lên đầu trang